Một bệnh nhân có xác suất tiên nghiệm mắc bệnh là p0. Bệnh nhân được thực hiện k lần xét nghiệm liên tiếp bằng cùng một loại xét nghiệm có độ nhạy se và độ đặc hiệu sp.
Sau mỗi lần xét nghiệm, xác suất hậu nghiệm được tính bằng định lý Bayes, và giá trị này được dùng làm xác suất tiên nghiệm cho lần xét nghiệm kế tiếp (cập nhật Bayes tuần tự), giả sử các lần xét nghiệm độc lập có điều kiện khi biết tình trạng bệnh thực sự:
pj=pj−1⋅L(rj)+(1−pj−1)⋅Lˉ(rj)pj−1⋅L(rj)
trong đó L(duong)=se, L(am)=1−se, Lˉ(duong)=1−sp, Lˉ(am)=sp.
Nếu tại bước nào đó mẫu số bằng 0 (tổ hợp dữ liệu không thể xảy ra), xác suất hậu nghiệm từ bước đó trở đi được coi là không xác định.
Ví dụ: p0=0.01, se=0.9, sp=0.95, k=2, kết quả duong duong: bước 1 cho p1≈0.153846, bước 2 dùng p1 làm tiên nghiệm cho p2≈0.765957.
Dòng 1: số thực p0.
Dòng 2: hai số thực se sp.
Dòng 3: số nguyên k (1≤k≤1000).
Dòng 4: k từ, mỗi từ là duong hoặc am - kết quả của từng lần xét nghiệm theo thứ tự thực hiện.
In ra k dòng; dòng thứ j là xác suất hậu nghiệm pj sau khi cập nhật với kết quả xét nghiệm thứ j, làm tròn 6 chữ số thập phân.
Nếu tại bước j mẫu số bằng 0, in -1.000000 cho dòng j và tất cả các dòng còn lại.
Ví dụ:
Đầu vào:
0.5
0.8 0.8
1
am
Đầu ra:
0.200000
Đầu vào:
0.01
0.9 0.95
2
duong duong
Đầu ra:
0.153846
0.765957
Đang tải editor...